Bàn giao tọa độ mốc của nền nhà, nhà xưởng

Công tác thi công nền và móng cần theo các yêu cầu của Tiêu chuẩn hiện hành, các quy định của Qui phạm này và đồ án thiết kế kỹ thuật về bàn giao tọa độ mốc của nền nhà, nhà xưởng.

1. Công tác thi công nền và móng cần theo các yêu cầu của Tiêu chuẩn hiện hành, các quy định của Qui phạm này và đồ án thiết kế kỹ thuật, BVTC.

2. Trong trường hợp thi công các dạng móng khác nhau cần phải tuân theo các mục trong Phần 5 của Quy phạm này, cho phép tham khảo các tài liệu có liên quan khác như:

a) Sơ đồ thi công về vị trí móng và bệ móng, cấu tạo cọc và hệ thống vòng vây ngăn nước kèm theo các chỉ dẫn và sai số theo mặt bằng và chiều cao;

b) Bảng tiến độ tổng hợp, sổ nhật ký đóng cọc, cọc ống, và cọc ván thép, nhật ký  khoan và đổ bê tông vào lỗ cọc khoan nhồi;

c) Các kết quả thử động cọc đóng (dùng búa đóng hoặc búa rung);

d) Các kết quả nén tĩnh cọc đóng, cọc ống hoặc đất nền móng (nếu hồ sơ thi công yêu cầu).

e) Hạ cọc và cọc ống.
 

3. Cọc được đóng hạ bằng búa đảm bảo độ sâu ngàm thiết kế đến độ chối nhưng không được nhỏ hơn 0,2 cm cho một nhát đập, còn cọc ống được hạ xuống bằng búa rung với năng suất hạ rung ở giai đoạn cuối không nhỏ hơn 5 cm/phút. Nếu yêu cầu trên không có khả năng đạt được, cần áp dụng phương pháp xói mũi cọc hoặc đặt cọc vào lỗ khoan mồi để hạ cọc đến độ chối tính toán, đối với cọc ống áp dụng phương pháp đào đất phía dưới mũi cọc trước hoặc dùng búa rung loại lớn hơn.

Cho phép đào đất cát phía dưới mũi cọc trước từ 1-2m, với điều kiện khi có áp lực nước thừa đủ trong lòng cọc, tức là có cột nước trong lòng cọc cao trên 4-5m so với cao trình mặt nước hoặc cao trình mạch ngầm.
 

4. Độ sâu khoan mồi cọc bằng 0,9 chiều sâu hạ cọc trong đất, còn đường kính lỗ khoan mồi bằng 0,9 đường kính cọc tròn hoặc 0,8 đường chéo cọc vuông cũng như cọc đa giác, và được điều chỉnh theo kết quả hạ thử cọc.
 

5. Kết cấu cọc hạ xuyên qua tầng dầy là loại đất cứng, được thực hiện bằng cách dùng mũi khoan dẫn hướng.

Cho phép đóng cọc trực tiếp qua lớp sét dẻo mềm hoặc đất á sét mà không có thành phần đất cứng.
 

6. Sau khi hạ xong cọc ống, cần lấy hết đất mùn ở đáy lòng cọc, làm sạch, nghiệm thu đáy cọc (kể cả việc mở rộng mũi cọc) và đặt lồng cốt thép trong trường hợp cần thiết, sau đó đổ bêtông nhồi vào lòng cọc.

Sau mỗi lần buộc phải dừng thi công, công việc đổ bêtông nhồi có thể tiếp tục thực hiện  nếu khoảng thời gian dừng không làm mất độ linh động của hỗn hợp đã đổ. Trong trường hợp ngược lại chỉ cho phép tiếp tục công việc khi có giải pháp đảm bảo chất lượng liên kết tốt ở mặt tiếp giáp giữa phần bê tông mới đổ và phần đã đổ trước đó.
 

7. Việc đổ đầy hỗn hợp bêtông trong lòng cọc ống BTCT trong phạm vi có dấu hiệu thay đổi nhiệt độ do tác động của môi trường xung quanh (nước, không khí, đất) phải thực hiện theo yêu cầu đặc biệt được chỉ dẫn trong BVTC (lựa chọn thành phần hỗn hợp, cách đổ nhồi bêtông, làm sạch mặt trong lòng cọc,...) ở cao trình dưới phạm vi đó một đoạn bằng một lần đường kính cọc nhưng không nhỏ hơn 1m, để đảm bảo an toàn cho cọc có thể hạn chế sự xuất hiện vết nứt trong khối bê tông nhồi.
 

9. Công tác thi công cọc khoan nhồi cần theo các yêu cầu của Quy phạm này và tiêu chuẩn ngành về “Cọc khoan nhồi-Quy trình thi công và nghiệm thu”.
 

10. Cho phép sử dụng áp lực của cột nước hoặc dung dịch vữa sét giữ thành vách lỗ khoan để thi công cọc khoan nhồi; nếu vị trí lỗ khoan cách các ngôi nhà hoặc công trình hiện có nhỏ hơn 40m, cần lựa chọn giải pháp thi công thích hợp để đảm bảo an toàn ổn định cho các công trình lân cận đó.

Trường hợp tạo lỗ cho cọc khoan không dùng ống (ống thép, ống BTCT) để giữ vách lỗ mà dùng gầu ngoạm đất (đặc biệt đối với lỗ cọc có nước) cần phải hoàn chỉnh mặt trong lỗ cọc khoan đến đường kính thiết kế bằng thiết bị ống doa hình trụ tròn (ống chuẩn làm cữ).
 

11. Để giữ không cho lồng cốt thép của cọc bị đẩy lên hoặc dịch chuyển trong quá trình rót đổ bê tông vào lỗ, cũng như trong mọi trường hợp bố trí lồng cốt thép không hết toàn bộ chiều cao của cọc, cần phải có kết cấu gông giữ cố định lồng thép theo đúng vị trí thiết kế.
 

12. Trường hợp gặp lỗ khoan khô trong lớp cát, lỗ khoan có ống vách (ống thép hoặc BTCT) cũng như lỗ khoan không có ống vách do xuyên qua địa tầng á sét và sét tại vị trí cao hơn mức nước ngầm nhưng không xuất hiện lớp cát hoặc á cát ở đáy lỗ, cho phép đổ bêtông lòng cọc không dùng ống dẫn mà rót đổ tự do ở độ cao rơi không quá 6m.

Trường hợp gặp lỗ khoan đầy nước, thi công đổ bêtông trong lòng cọc theo phương pháp rút ống theo chiều thẳng đứng, được qui định trong "Quy trình thi công bêtông dưới nước bằng phương pháp vữa dâng".
 

13. Đối với mỗi vị trí cụ thể, cần lựa chọn các giải pháp thi công chế tạo giếng chìm phù hợp với khả năng kỹ thuật của đơn vị và đảm bảo hiệu quả kinh tế cao, như: chế tạo ngay trên vị trí đặt móng (dọn mặt bằng thi công trước, tạo mặt bằng trên đảo đắp, làm sàn cầu công tác cố định) hoặc làm bên cạnh vị trí xây dựng móng (lập công địa riêng, làm trên hệ nổi hoặc sàn công tác); kèm theo các giải pháp thi công hạ giếng chìm vào sâu lòng đất : dùng tác động của trọng lượng bản thân (thêm phụ tải đá xếp-kích ép nếu cần; kết hợp xói thành bên; dùng áo vữa sét ...) hoặc dùng dàn búa rung hạ.
 

14. Trong quá trình hạ giếng đến cao độ thiết kế, cần phải có giải pháp phòng ngừa khả năng giếng bị nghiêng lệch (dùng kết cấu hướng dẫn, đào đất đồng đều theo mặt bằng đáy giếng, chất tải cân bằng trên giếng trong trường hợp dùng phụ tải cân bằng trên giếng trong trường hợp dùng phụ tải đá xếp hoặc kích ép...) hoặc bị kẹt trong đất (dùng lớp áo vữa sét, xói thuỷ lực hoặc khí nén, chất tải...).
 

15. Để phòng ngừa khả năng cát trồi xảy ra ở lớp đáy giếng, phải đảm bảo sao cho chân giếng luôn ngập sâu vào đất từ 0,5 đến 1m, còn mực nước trong giếng không được thấp hơn mực nước bên ngoài. Nếu gặp trường hợp giếng bị treo hoặc khi cần đẩy xa đá cục mồ côi nằm kẹt dưới chân giếng, chỉ cho phép tiến hành các thao tác trong điều kiện luôn có áp lực nước dư thừa trên mặt đáy giếng bằng cách đổ đầy nước vào sao cho mực nước bên trong cao hơn mặt nước bên ngoài xung quanh giếng từ 4 đến 5m.
 

16. Không cho phép có sự gián đoạn giữa hoàn thành thi công hố đào với xây dựng kết cấu móng. Trong trường hợp phải để gián đoạn công việc trên, cần có giải pháp đảm bảo đặc  tính tự nhiên của đất nền tại đó. Lớp đáy hố đào  gần đến cao độ

thiết kế (khoảng 5 - 10 cm) cần được sửa dọn sạch mặt trước khi thi công móng.
 

17. Trước khi thi công móng phải hoàn thành việc đưa nước mặt và nước ngầm ra khỏi hố đào (đào rãnh hoặc mở đường thoát nước ngầm, hạ mức nước ngầm...) cần được lựa chọn phù hợp với điều kiện tại chỗ và được sự chấp thuận của tổ chức tư vấn thiết kế. Trong trường hợp này, cần có giải pháp không cho đất bùn đọng dưới đáy hố đào và không làm phá huỷ đặc tính tự nhiên của đất nền tại đó.
 

18. Trước khi thi công móng công trình cần phải lập biên bản nghiệm thu hố đào với sự tham gia của Chủ công trình, Tư vấn giám sát và Nhà thầu; trong trường hợp đặc biệt phải có sự tham gia của cơ quan Tư vấn thiết kế và đơn vị đo đạc.

Hội đồng nghiệm thu cần căn cứ vào hồ sơ thiết kế móng: Vị trí, kích thước, cao độ đáy móng, hiện trạng của nền và đặc tính của đất nền, cũng như khả năng đặt móng theo thiết kế hoặc thay đổi cao trình móng.

Việc tiến hành kiểm tra nền đặt móng không được làm tổn hại đặc tính tự nhiên của đất tại đó; khi cần thiết, ngoài việc lấy mẫu làm thí nghiệm trong phòng, có thể thăm dò hoặc ép thử trên nền đất.

Nếu Hội đồng nghiệm thu thấy đặc trưng của đất nền theo thực tế khác với thiết kế thì cần phải xem xét đồ án BVTC; việc tiếp tục thi công phải được cơ quan Tư vấn thiết kế và Chủ công trình quyết định sau khi đã đối chiếu và tính toán lại.
 

19. Các kết cấu đúc sẵn dùng để thi công móng nông phải được đặt trên một lớp đệm cát, đá dăm hoặc cát xi măng có độ dày không nhỏ hơn 5 cm (đối với đất nền sét) và được đầm chặt san phẳng một cách cẩn thận.

Trong trường hợp nền có chỗ lõm cục bộ thì phải đắp bù đất cùng loại để đảm bảo mặt nền phẳng và chặt.

Trong quá trình thi công móng nông, cần kiểm tra:

Phần đất phải dọn hết trong hố đào, cấu trúc của đất nền không cho phép bị xáo trộn hay bị huỷ hoại;

Cấu trúc của đất không cho phép bị huỷ hoại trong thời gian hót dọn, chuẩn bị mặt nền và lắp đặt các khối móng đúc sẵn;

Giữ cho đất trong hố đào khỏi bị ngập nước dễ làm lớp trên mặt nền bị nhão và xói mòn;

Đặc trưng của đất nền thực có so với thiết kế;

Tính đầy đủ của các giải pháp áp dụng để bảo vệ đất nền khỏi bị biến tính trong thời gian hố đào hở lộ ra và cho đến khi hoàn thành xây móng;

Độ sâu và kích thước thực tế của móng, cũng như về cấu tạo và chất lượng vật liệu làm móng, so với thiết kế.

Các tin liên quan

Trắc địa trong thi công hạ tầng kỹ thuật
Trắc địa trong thi công hạ tầng kỹ thuật
Trắc địa trong thi công hạ tầng kỹ thuật phải khảo sát xây dựng là hoạt động thị sát, đo vẽ, thăm dò, thu thập, hiện trạng công trình để lập các giải pháp đúng đắn về kỹ thuật và hợp lý nhất về kinh tế khi thiết kế, xây dựng công trình.
Đo đạc trắc địa công trình xây dựng
Đo đạc trắc địa công trình xây dựng
Đo đạc trắc địa công trình xây dựng trình tự công tác bố trí công trình...
Đo đạc trắc địa ( Trắc đạc )
Đo đạc trắc địa ( Trắc đạc )
Ngành khoa học trắc đạc (hay còn gọi là trắc địa) ngày càng phát triển và thu hút những thế hệ người học tập, nghiên cứu, làm việc trong ngành ngày càng lớn. Công việc của ngành trắc địa không đơn giản chỉ là khảo sát đo đạc vàthiết lập bản đồ mà nó còn bao gồm nhiều phân ngành công việc khác. Trong bài viết này chúng tôi sẽ giới thiệu kỹ hơn với bạn đọc về ngành trắc địa để bạn đọc hiểu hơn về trắc địa.

Bình luận